Tôi
đã trở về Hà Nội vào lúc 11g00 đêm, nhưng những cảm xúc vẫn cứ mãi dâng
trào trong tôi. Tôi vừa tham dự vào một cuộc chia ly đầy tình cảm,
những giọt nuớc mắt, những cái níu tay, những tiếng nức nở và những lời
nhắn gởi thắm tình, dạt dào thương mến, chân thành, đơn sơ và thánh
thiện…
Chiều
nay anh em chúng tôi vừa kết thúc chuyến giảng Đại Phúc ở một Giáo Họ
thuộc một Giáo Xứ ở Hà Nam, Giáo Họ mừng 100 năm kỷ niệm Nhà Thờ, tôi
được tham dự ngày cuối cùng khi trên đường từ Nho Quan, Ninh Bình, trở
về ngang qua Hà Nam trước khi vào Hà Nội.
Khi
tôi vào đến đầu làng, một không khi tưng bừng rộn rã thể hiện trên các
lối đi của làng xã, cờ Hội Thánh ( trắng, vàng ), cờ Đức Mẹ ( trắng,
xanh ), bay phất phới, cha truởng đoàn Đại Phúc chia sẻ với tôi: cả làng
ngưng việc để tham dự Đại Phúc. Quả thật ngoài ruộng vườn, những mảnh
vườn bé nhỏ, những ô ruộng khiêm tốn đầy những vạt rau xanh, xu hào, cải
xanh, hành, hẹ, củ cải xanh ngắt một màu hiền hòa nằm im ắng dưới nắng
chiều nhẹ của một ngày giữa thu Hà Nội, gần như không có một bóng người
giữa ruộng vườn.
Có
một người phụ nữ trẻ, trên đầu vấn một cái khăn như chúng ta thường
thấy nơi người nữ lao động miền Bắc, quần áo lam lũ ruộng vườn, chị nhìn
thấy chúng tôi vào làng khi đang cố gắng “tham lam” thu dọn nốt một vài
cái gì đó nơi vuông ruộng nhà chị. Khi thấy chúng tôi, chị như hốt
hoảng, chị vội vàng chạy lên đường cái, dắt chiếc xe đạp của chị đang
dựng trên đường để tránh qua một bên, hình như chị cảm thấy có lỗi vì
giờ này vẫn còn ở ruộng chưa về để lo đến Nhà Thờ. Dưới nắng chiều tôi
thấy chị đẹp lạ lùng, tôi nói với cha trưởng đoàn: “Em thấy không, người
đàn bà đó thật dễ thương, chị đơn sơ chân chất, thánh thiện và đáng
ngưỡng phục, ôi sao nét đẹp nhiệm mầu…”
Cha
trưởng đoàn Đại Phúc giao cho tôi nhiệm vụ giảng bài kết thúc tuần Đại
Phúc trong Thánh Lễ bế mạc, nội dung bài giảng nói về Đức Mẹ. Hình ảnh
người phụ nữ lam lũ, đơn sơ, tinh tế, tôi vừa gặp trên đường ruộng gợi ý
cho tôi nói về Mẹ của chúng mình. Mẹ đã sinh ra rồi lớn lên trong kiếp
sống nghèo lao động, nơi cái nghèo vật chất, Mẹ ý thức và nhạy bén với
cái nghèo tinh thần, Mẹ “phô diễn” cái nghèo của Mẹ bằng cách để cho
Chúa làm cho Mẹ nên giàu có, và Mẹ chuyển cái giàu có của Mẹ cho chúng
ta được trở nên giàu có.
Ngày mai Chúa Nhật 28 mùa Quanh Năm B, bài Tin Mừng Mc 10, 17 – 27 Chúa nói: “…Những
kẻ cậy dựa vào tiền bạc, thật khó mà vào Nuớc Thiên Chúa biết bao ! Con
lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu có vào Nước Thiên Chúa”. Nước Thiên Chúa không có chỗ cho người giàu cậy thế ỷ quyền, không bao giờ con lạc đà mà có thể chui qua lỗ kim ! Nhưng “Phúc cho ai có tinh thần nghèo khó vì Nước Trời là của họ”
( Mt 5, 5tt ). Nước Thiên Chúa thuộc về những ai sống nghèo, biết sống
nghèo, ý thức mình nghèo mà phó thác cậy dựa vào Thiên Chúa.
Chúng
tôi kết thúc Tuần Đại Phúc bằng nghi thức trồng và làm phép cây Thánh
Giá Đại Phúc được dựng trong sân Nhà Thờ, bữa cơm tối vội vã với cha xứ,
cha phó, Hội Đồng Mục Vụ Giáo Xứ và các em giúp lễ. Khi chúng tôi dùng
cơm, bà con vây quanh chật phía ngoài nhà cơm, các bạn trẻ hát hò vui
vẻ, thỉnh thoảng các cha trong đoàn chạy ra reo hò, hát với các bạn đôi
câu, tiếng cười giòn tan, tiếng vỗ tay ồn ào, tiếng la hét tranh nhau
nói, tranh nhau trêu chọc.
Tôi
hoàn toàn không ngờ, cái đám đông ấy chưa chịu về nhà còn nán lại vui
vẻ ở sân Nhà Thờ bỗng bùng lên những tình cảm bi lụy, khi anh em chúng
tôi khăn gói va ly đồ đoàn chất lên xe, là lúc tiếng khóc nức nở vang
lên thay tiếng cười rộn rã, người lớn khóc, các bạn trẻ khóc, rồi cả bọn
giúp lễ ngơ ngác nghịch ngợm cũng khóc. Họ níu kéo các cha không cho
đi, họ gào lên: “Cha đừng đi, cha ơi !”
Ông
Trùm nói với tôi: “hôm nay các cha đi rồi chúng con vắng vẻ lắm”, ông
nói rồi ông nghẹn không nói được nữa. Xe chở chúng tôi phải vất vả lắm
mới tiến dần ra đến đầu làng, vất vả vì đường hẹp, các bạn trẻ bám theo
xe, các bạn khóc như đi đưa đám, các cha cứ phải thò đầu ra khỏi xe để
an ủi, bảo các bạn trở về nhà đi, có cha quát to lên: “Cha có chết đâu
mà khóc, sao lại theo xe như xe tang vậy ?” Ông tài xế chật vật không
dám chạy nhanh nữa vì sợ các bạn bị kẹt vào xe, các bạn cứ đập vào xe
rầm rầm và cứ khóc, có cha nói đùa: “Các cha thì xót xa, bác tài thì xót
xe !”
Xe
ra đến đầu làng nhưng không di chuyển được nữa, một đám dân chúng đứng
hai bên đường đưa tiễn nhưng có một gia đình bế đứa con nhỏ đặt ngay ra
giữa đường để cản xe, bác tài bí hoàn toàn, chúng tôi xin cha xứ can
thiệp, cha xứ ở nhà xứ chính cách đó hơn hai cây số, ngài về cùng xe với
chúng tôi, ngài phải mở cửa xe bước xuống thuyết phục họ bế cháu bé lên
để chúng tôi đi.
Nút
chặn cuối cùng ở ngay đầu làng, một nhóm đã phục sẵn, kết hợp với nhóm
“theo xe tang” bít chặt cửa làng. Một lần nữa cha xứ phải xuống xe, ngài
vất vả để mở đường cho xe chở chúng tôi thoát ra, bây giờ trong xe
thinh lặng hoàn toàn, không ai dám đùa giỡn nữa, tiếng khóc vang lên rồi
xa dần khi xe lăn nhanh bánh, hình như có giọt nuớc mắt nào đã lọt vào
xe, đọng lại trên khóe mắt những Thừa Sai của Chúa Giêsu.
Bóng
tối như trùm cả vào trong xe, đôi phút thinh lặng đi qua, bỗng mọi
người phá lên cười vì đồng loạt các điện thoại của anh em đều tưng bừng
báo chuông, và lại những lời chia tay biệt ly ồn ào vang lên.
Chúng
tôi về đến Hà Nội, trời đã vào khuya, tiết thu Hà Nội đã bắt đầu se se
lạnh, quá mệt mỏi, mọi người lặng lẽ khăn gói về phòng riêng, nhưng hình
như không ai ngủ, tôi ngồi ghi lại những cảm xúc này khi thời gian đã
qua ngày hôm sau, 1g30 ngày Chúa nhật 14 tháng 10, đèn các phòng gần
phòng tôi có phòng còn sáng. Thiên Chúa lạ lùng, từng ngày Ngài dạy tôi
từng bài học mới, bài học yêu thương, bài học hiệp thông…
Lm. VĨNH SANG, DCCT, rạng sáng Chúa Nhật 14.10.2012
(Ephata 530)